Mòn khuôn ép gạch lát nền ceramics và vấn đề thiết kế chế tạo khuôn

Kết nối Lò Khí Hoá Than TẠi MIKADO
Thay trụ chính Máy ép SACMI PH2590

Công nghiệp sản xuất gạch ceramic hiện đang phát triển mạnh mẽ ở nước ta do nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Khuôn ép gạch lát nền ceramics làm việc trong môi trường ăn mòn, áp lực cao, ma sát và mòn mạnh nên thường xuyên phải thay thế. Tuy nhiên cho đến nay, chất lượng khuôn ép sản xuất trong nước, đặc biệt là vanh khuôn vẫn chưa đạt được tiêu chuẩn của các nước phát triển nên các doanh nghiệp vẫn phải nhập ngoại. Bài này trình bày các vấn đề liên quan đến quá trình mòn và cơ chế mòn của vanh khuôn ép gạch ceramics, từ đó đề ra giải pháp mới cho việc thiết kế và chế tạo vanh khuôn trong nước đạt chất lượng cao.Hiện nay đẫ có một vài công ty trong nước làm được vanh khuôn như cơ khí tân định,Công ty Kim thịnh,Khuôn Liên doanh FOSHAN-Vĩnh phúc I - Một vài cơ chế mòn liên quan đến mòn khuôn ép Gạch lát nền ceramic hiện đang được sử dụng rộng rãi trong xây dựng công nghiệp và dân dụng nước ta. Hiện tại trong nước đã có vài chục nhà máy sản xuất loại gạch này. Các dây chuyền sản xuất gạch chủ yếu nhập từ Italya, trong các dây chuyền này khuôn ép là một trong những cụm chi tiết có giá thành cao và thường xuyên phải thay thế. Mòn khuôn ép nguội nói chung có thể liên quan đến các cơ chế mòn do dính, mòn do cào xước và mòn hoá học gây ra bởi tương tác hoá học của vật liệu ép với các bề mặt của khuôn. Các cơ chế mòn này được trình bày tóm tắt dưới đây: 1.1 Mòn do dính Mòn do dính (adhesion, galling, scuffing, wlding hay smearing) xảy ra khi hai bề mặt rắn, phẳng trượt so với nhau. Dính xảy ra tại chỗ tiếp xúc ở đỉnh các nhấp nhô dưới tác dụng của tải trọng pháp tuyến, khi sự trượt xảy ra vật liệu ở vùng này bị trượt (biến dạng dẻo) dính sang bề mặt đối tiếp hoặc tạo thành các mảnh mòn rời. Mảnh mòn do dính có thể còn do quá trình mòn do mỏi ở đỉnh các nhấp nhô. Một số giả thuyết dùng giải thích cơ chế tách vật liệu tạo thành hạt mòn do dính là do trượt, và cắt có thể xảy ra về phía vùng yếu nhất của hai vật liệu tại chỗ tiếp xúc. Theo giả thuyết khác, nếu sức bền dính đủ lớn để cản trở chuyển động trượt tương đối, một vùng của vật liệu sẽ bị biến dạng dưới tác dụng của ứng suất nén và tiếp và sự trượt xảy ra mạnh dọc theo các mặt phẳng trượt của các tinh thể trong vùng biến dạng dẻo. Những dải trượt này tạo thành các mảnh mòn dạng lá mỏng. Nếu biến dạng dẻo xảy ra trên diện rộng ở vùng tiếp xúc đôi khi mảnh mòn sinh ra có dạng hình nêm và dính sang bề mặt đối tiếp. Quá trình trượt giữa hai bề mặt tạo ra nhiều mảnh mòn dính sang bề mặt đối tiếp, tích tụ và tạo nên các mảnh mòn rời do tác dụng oxy hoá của oxy trong môi trường hoặc do năng lượng đàn hồi lớn hơn năng lượng dính. Phương trình định lượng xác định thể tích mòn do dính trên một đơn vị chiều dài trượt theo Archard: Q = k W (1.1) 3p0 hay theo Rowe khi trên bề mặt tiếp xúc chung tồn tại một lớp màng bôi trơn: Q = km (1 + αμ2 )1/2 W (1.2) p0 1.2 Mòn do cào xước Mòn do cào xước do các hạt cứng gắn vào một bề mặt hoặc do các hạt cứng tự do giữa hai bề mặt gây ra khi giữa hai bề mặt tồn tại chuyển động tương đối. Mòn do cào xước xảy ra theo hai cơ chế biến dạng dẻo (vật liệu dẻo), nứt tách Hec (vật liệu dòn). 1.2.1 Mòn do biến dạng dẻo Vật liệu tách khỏi bề mặt thông qua biến dạng dẻo trong quá trình mòn do cào xước có thể xảy ra theo vài chế độ biến dạng bao gồm cày (plowing), dồn ép vật liệu (wedge formation). và cắt. Trong quá trình cày, vật liệu bị biến dạng bị dồn sang hai bên của rãnh mà không bị tách ra. Sự hình thành lượng vật liệu dồn ép ở phía trước của nó. Điều này thường xảy ra khi tỷ số giữa sức bền cắt của bề nặt tiếp xúc chung đối với sức bền cắt trong lòng vật liệu cao. Dạng cắt của mòn do cào xước xảy ra khi hạt cứng với góc tiếp xúc lớn di chuyển tạo nên rãnh và tách vật liệu ra khỏi rãnh dưới dạng mảnh mòn có dạng giống như phoi dây hoặc vụn. Thể tích mòn v do một hạt cứng gây nên trên quãng đường x có thể tính: v= 2Wx (tgθ)tb (1.3) Hay theo Archrd v = k abr Wx (1.4)πH H Giá trị của k abr thay đổi trong dài từ 10-6 đến 10-1. Tốc độ mòn do cào xước thường rất lớn gấp khoảng 2-3 lần so với mòn do dính. Phương trình mòn do cào xước hai vật thể cũng đúng trong trường hợp mòn do cào xước ba vật thể nhưng hệ số k abr thấp hơn bởi vì các hạt cứng có xu hướng lăn nhiều hơn trượt. 1.2.2 Mòn do nứt tách Hec Khảo sát một hạt cứng trượt trên mặt phẳng của vật liệu dòn. Khi tải trọng pháp tuyến còn nhỏ, hạt cứng sắc sẽ chỉ gây ra biến dạng dẻo trên mặt vật rắn và mofn xảy ra do biến dạng dẻo. Khi tải trọng pháp tuyến vượt qua một giá trị nào đó mòn do nứt ngang làm tăng đột ngột tốc độ mòn. Tải trọng giới hạn tỷ lệ với (Kc)3Kc trong đó H/Kc gọi là chỉ số độ dòn, H là độ Hcứng và Kc là độ dai va đập. Thể tích mòn đơn vị trên một đơn vị chiều dài trượt có thể xác định: v = α3N (E/H)W9/8 ( 1.5) Kc1/2 H5/8 trong đó α3 là hệ số không phụ thuộc vào vật liệu. Vì E/H không thay đổi nhiều với các vật rắn dòn khác nhau, nên tốc độ mòn tỷ lệ nghịch với Kc1/2, H5/8. Tốc độ mòn tỷ lệ thuận với W9/8 nghĩa là tốc độ mòn do nứt ngang tăng nhanh hơn tuyến tính theo tải trọng pháp tuyến như trong biến dạng dẻo. 1.3 Mòn hoá học Mòn hoá học xảy ra khi các bề mặt đối tiếp hoạt động trong môi trường có hoạt tính hoá học. Trong không khí mòn hoá học đôi khi gọi là mòn do ôxy hóa. Mòn hoá học liên quan đến sự hình thành và phá huỷ của lớp màng sản phẩm hoá học trong vùng tiếp xúc. Mòn hoá học là hiện tượng cần quan tâm, đặc biệt trong các ngành công nghiệp như mỏ, tuyển khoáng, dây chuyền hoá học, xử lý bùn, nước thải. Mòn hoá học xảy ra so sự tương tác hoá học hoặc điện hoá của bề mặt chi tiết với môi trường. Môn hoá học xảy ra trong môi trường ăn mòn, nhiệt độ và độ ẩm cao. Mòn điện hoá xảy ra khi phản ứng hoá học đi kèm với tác dụng của dòng điện chảy ra trong quá trình điện phân. Khi ăn mòn hóa học là nguyên nhân chính của mòn, một tương tác phức tạp giữa các cơ chế mòn khác nhau luôn tồn tại. Đầu tiên mòn có thể là do dính hoặc do cào xước sau đó là sự kết hợp của mòn hoá học và mòn do cào xước. Ứng suất tiếp xúc cao có thể làm tăng ăn mòn cục bộ dẫn đến sự tạo thành các lò châm kim trên bề mặt. Ứng suất dư trong lòng kim loại có thể gây ra nứt do kết hợp với sự ăn mòn trong môi trường hoạt tính cao. Hiện tượng này kết hợp với sự trượt bề mặt có thể gây ra mòn mạnh giống như sự ăn mòn của một pha trong hợp kim ổ hai pha. II - Khảo sát cơ chế mòn vanh khuôn ép gạch ceramic Một ô khuôn ép gạch ceramic bao gồm chày trên, chày dưới và 4 vanh khuôn. Do vanh khuôn là chi tiết thường phải thay thế nên vanh khuôn ép gạch ceramic cỡ 20 x 25cm2 và 30 x 30 cm2 chế tạo ở Italy là đối tượng của nghiên cứu này. Kết quả phân tích quang phổ cho thấy vật liệu chế tạo vanh khuôn là thép hợp kim với hàm lượng Cr khoảng 12% được tôi cứng từ 56 HRC ÷ 62 HRC. Mòn vanh khuôn xảy ra với cường độ mạnh nhất ở vùng cung lượn tạo góc lượn cho viên gạch. Chi tiết phải thay thế khi chiều sâu vùng mòn đạt 0,20mm. Dựa trên các quan sát trên kính hiển vi điện tử, mòn vanh khuôn là mòn do cào xước kết hợp với hoá học do vật liệu ép là đất đá và phụ gia với độ ẩm khoảng 7%. Cơ chế mòn do dính không tồn tại trong nghiên cứu này. Sự tạo thành các rãnh mòn theo cơ chế biến dạng dẻo. Vật liệu bị biến dạng dẻo mạnh chủ yếu theo cơ chế này. Các rãnh hằn sâu trên bề mặt của vùng mòn chứng tỏ trong vật liệu ép tồn tại các hạt cứng có kích thước lớn đáng kể và có độ cứng lớn hơn 60HRC. Sự tách ra của các hạt mòn và các hạt các bít trong thép còn có thể liên quan đến quá trình mỏi do độ cứng của phần lớn các hạt cứng gây mòn do cào xước có độ cứng thấp hơn 60HRC. Các thí nghiệm chỉ ra sự ăn mòn bề mặt của cắt ngang qua các hạt chứ không phải là sự tách rời của các hạt theo biên giới. Sự phá huỷ lớp bề mặt còn do biến dạng dẻo. Chiều dày của lớp vật liệu bị biến dạng dẻo là không đáng kể và chắc chắn chỉ tồn tại ở những nơi tồn tại các vết xước cào sâu. Ảnh SEM thể hiện hiện tượng mòn hoá học trên bề mặt vùng mòn. Lớp màng sản phẩm tương tác hóa học giữa vật liệu ép và vanh khuôn bị bong ra bộ phận để lộ vật liệu vanh khuôn bên trong tạo điều kiện cho các tương tác hoá học tiếp theo.Hơn nữa bằng chứng của mòn hoá học là sự tồn tại của các lỗ kim trên bề mặt vanh khuôn. Sản phẩm tương tác hoá học của bề mặt vanh khuôn với vật liệu ép có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm yếu liên kết của các hạt các bít với nền thép, tạo điều kiện cho òn do cào xước phát triển mạnh hơn. III - Một số giải pháp thiết kế và chế tạo vanh khuôn Từ các phân tích về cơ chế mòn vanh khuôn có thể thấy để tăng tuổi thọ của vanh khuôn ép trên khía cạnh vật liệu, cần áp dụng các biện pháp công nghệ để nâng cao độ cứng vùng bề mặt khuôn và hạn chế tác dụng ôxy hoá cũng như các tương tác hoá học trên vùng bề mặt. Sử dụng vật liệu dùng làm khuôn ép nguội hoặc sử dụng công nghệ hợp kim hoá bề mặt nhằm tăng độ cứng và khả năng chống mòn hoá học ở vùng bề mặt vanh khuôn là những giải pháp công nghệ khả thi nhằm nâng cao tuổi thọ của vanh. IV - Kết luận Từ kết quả quan sát có thể thấy rằng mòn vanh khuôn ép gạch ceramic cỡ 20 x 25 cm2 và 30 x 30 cm 2 là do mòn cào xước kết hợp với mòn hoá học, cơ chế mòn do dính không tồn tại trong quá trình ép. Tác động hoá học của vật liệu ép ở độ ẩm 7% tạo điều kiện cho sự hình thành của lớp màng sản phẩm hoá học làm giảm sức bền vật liệu vùng bề mặt thúc đẩy mòn do cào xước. Cần lựa chọn biện pháp công nghệ tiên tiến để tăng độ cứng trên vùng bề mặt nhằm giảm mòn do cào xước theo cơ chế biến dạng dẻo. Hơn nữa vùng bề mặt cần có khả năng chống ôxy và tương tác hoá học cao hơn. Phan Quang Thế, Nguyễn Đăng Bình(Trường Đại học công nghiệp Thái Nguyên

Sưu tầm Tiền Cũ,Tiền cổ


.jpg">

Những người có ý định sưu tầm hoặc mới bắt đầu sưu tầm thường có các câu hỏi tương tự nhau. Để tránh mất thời gian cho người hỏi và người trả lời, mục này sẽ tập hợp những câu hỏi và trả lời thường gặp. Mong mọi người bổ sung tiếp. Ai có tiến cổ cần trao đổi liên hệ với tôi:Tranmanhhungmkd@yahoo.com.vn1) Tôi có ý định sưu tầm tiền, phải bắt đầu từ đâu ? Sưu tầm tiền có nhiều kiểu, bạn cần xác định được mình muốn sưu tầm theo kiểu nào. Thông thường, mọi người hay sưu tầm tiền của nước mình (hoặc có liên quan), tiền của nước mình đang sinh sống, theo chất liệu (tiền giấy, tiền xu), theo chủ đề ... Nếu cách sưu tầm bạn chọn là phổ biến, bạn sẽ có cơ hội giao lưu, học hỏi, mua lại hàng dư với những người đi trước. Bù lại, sự cạnh tranh sẽ cao. Bạn cũng có thể đi tiên phong trong lĩnh vực sưu tầm nào đó, nhưng đừng "độc đáo" quá kẻo lại chơi một mình. 2) Tôi đã xác định được lĩnh vực sưu tầm, làm sao biết được trong lĩnh vực này có những đồng tiền nào? Hãy kiếm cuốn catalog cho lĩnh vực sưu tầm của bạn. Trong catalog, các đồng tiền được đánh số thứ tự và được định giá theo chất lượng của tiền. Nếu đồng tiền bạn có không xuất hiện trong catalog, rất có thể bạn đang sở hữu một đồng tiền quý hoặc bạn đang sở hữu một cuốn catalog quá cũ. Bạn có thể lấy catalog tiền kim loại và tiền giấy ở đây http://forum.viet-numis.com/viewtopic.php?t=1347 Và đọc bài giới thiệu về pick catalog tại đây http://forum.viet-numis.com/viewtopic.php?t=775 3) Người thân của tôi phàn nàn rằng tôi mất nhiều thời gian, tiền bạc cho việc sưu tầm. Các bác ơi , cứu ... vuthang sưu tầm - Tính ngăn nắp: Trong cuộc sống bận rộn thường nhật, không phải lúc nào khi chúng ta cần dùng một số đồ vật thì chúng có trước mắt ta ngay. Chính vì vậy, việc sưu tập tem, đồng xu, mề đay (huân, huy chưo’ng),.., tượng điêu khắc hoặc đĩa cảnh,... sẽ tạo cho chúng ta tính ngăn nắp, đồng thời đáp ứng được nhu cầu một cách chính xác thuộc phạm vi kiểm soát hàng ngày của chúng ta. Mặt khác chúng ta sẽ đạt được một niềm tự hào trong quá trình sưu tập khi hoàn tất một an bum sưu tập hay khi được trưng bày tất cả những vật mà chúng ta sưu tập được. - Kiến thức: Thật là to tát để mở rộng tầm nhìn trong cuộc sống hoặc là trong việc học tập của chúng ta về một thành phố, một xứ sở, về chiếc xe hơi hay những vật thương yêu của chúng ta. Bạn có biết vào thời đế quốc La Mã, người ta thường sưu tập nghệ thuật và các đồng tiền cổ Hi Lạp. Các vua chúa La Mã thời bấy giờ đã từng thưởng lãm những bộ sưu tập lớn của nền văn minh Hi lạp - La mã. Chúng xuất hiện hàng trăm năm trước khi JULIUS CEASAR sinh ra. Không còn nghi ngờ gì nữa - việc tìm kiếm kiến thức không có giới hạn. Có thể từ niềm vui của bạn trong lĩnh vực sưu tập các đồng xu sẽ dẫn đến lĩnh vực sưu tập các mề đay, hay có khi là động co’ thúc đẩy bạn tiến lên sưu tập tiền giấy, hoặc các nén tiền bằng vàng, bạc. Mặt khác, trong lĩnh vực sưu tập - việc thu thập thông tin là động cơ’ đồng thời có tác dụng làm cân đối nhân cách của chúng ta, kể cả như nó không bao gìờ được ứng dụng trong đời sống thường nhật của chúng ta. Song thật sự chính nó là niềm vui đối với nhu cầu tri thức. - Đầu tư: Bạn có biết những vật mà bạn mua để sưu tập ngày hôm nay - giá trị của chúng sẽ tăng cao vào 10 năm tới? Với thời gian, giá trị của những bộ sưu tập sẽ tăng hoặc ít ra cũng giữ được giá trị ban đầu thay vì chúng ta tiêu pha tiền vô ích... mặc dầu là lí do đầu tư chưa hẳn là lí do duy nhất của việc sưu tập. Song viễn ảnh về việc tích luỹ trong quá trình đầu tư cho sưu tập vẫn là lí do khá hấp dẫn đối với việc hình thành các bộ sưu tập trong lúc không ít người biết rằng chúng sẽ đem lại giá trị cao trong tương lai. Sưu tập một cách thận trọng có định hướng vào những vật quý hiếm, khả năng sẽ mang lại một khoản lãi cho các nhà sưu tập vào những năm sắp tới. Đặc biệt nếu như bạn chịu khó làm một cuộc nghiên cứu nhỏ trước khi bạn đầu tư vào một số\ vốn đáng kể - một kế hoạch nhỏ khả dĩ cho việc mua các vật sưu tập chắc chắn được ghi nhận có giá trị cao. Tôi có thể đoán chắc với các bạn không có bộ sưu tập nào mà không mang lại giá trị qua thời gian - và thật ngạc nhiên làm sao khi giá trị của chúng được tăng trưởng đáng kể với nhiều giá cả khác nhau, đươ’ng nhiên một phần tuỳ thuộc ý định cho việc trưng bày bộ sưu tập hoặc được phép triển lãm một số vật sưu tập quý báu của bạn. - Tình hữu nghị: Ít nhiều các nhà sưu tập đã kết bạn và tạo được mối quan hệ quen biết với nhiều bạn mới được xem như kết quả của sở thích, và nhiều người đã đạt được điều đó thông qua các hội nghị, các buổi trưng bày vật sưu tập, hay các cuộc triển lãm. Đây cũng chính là những địa điểm thuận lợi trong mối quan hệ kinh doanh tất yếu đạt được. Mặt khác, các nhật báo, tạp chí thuộc lĩnh vực các nhà sưu tập sẽ giới thiệu bạn với các nhà sưu tập khác có tươ’ng đồng về sở thích. Những nhà kinh doanh và các nhà sưu tập họ không chỉ quan hệ với nhau về mặt kinh doanh mà thông thường họ còn là bạn đường của nhau về mặt trao đổi sưu tập. - Thú tiêu khiển: Sưu tập là niềm vui đồng thời là thú tiêu khiển trọn vẹn nếu như bạn biết sưu tập một cách có phương pháp. Sự chán nản, tính cau có, sự tức giận hay nỗi thất bại, tính lười biếng là những trạng thái tinh thần chắc chắn sẽ bị loại bỏ bởi tinh thần sưu tập của bạn. Nhà sưu tập nào khi nhìn thấy những vật cần thiết cho bộ sưu tập của mình mà chán nản thì quả là một nhà sưu tập không bình thường. Trước bộ sưu tập những hình nghệ thuật, hay phong bì ngày đầu tiên hoặc vũ khí cổ lỗ, những quyển sách cũ, những người lính bằng chì,... bạn sẽ sống lại những giây phút thoả thích mà bạn trải qua khi lần đầu tiên, nhu cầu sưu tập làm cho bạn thêm hứng thú. Bởi vì với một bộ sưu tập mà bạn sở hữu, bạn có thể thưởng thức lúc nào bạn thích. Vì khi bạn tiêu tiền vào cho việc sưu tập, bạn có dịp được tiêu khiển mãi mãi. - Trưng bày: Bạn nên nhớ mỗi bộ sưu tập đều có thể được trưng bày nếu như không phải là cuộc triển lãm tranh giải dành cho hội nghị các nhà sưu tập, thì ít ra nó cũng được thường xuyên trưng bày ở các cuộc triển lãm hiện đại ở trường học, thư viện, giáo đường hay tại các câu lạc bộ. Ngoài ra, nếu bạn có chân trong một tổ chức nào đó, ít ra bạn cũng có đưo’c một khoảng không gian nhất định dành cho việc trưng bày bộ sưu tập hoặc đưọc phép triển lãm một số vật sưu tập quý báu của bạn. - Vinh dự: Vinh dự cũng là một khía cạnh quan trọng. Bất kì nhà sưu tập nào cũng đạt được sự kính trọng sâu sắc khi anh ta hoặc chị ta đạt được sự ngưỡng mộ đối với bộ sưu tập có tầm cỡ. Các giải thưởng huy chươ’ng và những phần thưởng khác là nguồn cổ vũ, động viên đối với những bộ sưu tập có tầm vóc lớn và chuyên sâu. Có thể đó là một bộ sưu tập về tranh ảnh, hoặc các tấm thẻ bài về bóng đá, các dụng cụ, thú nhồi bông, băng nhạc, các kiểu xe tân kì, các món đồ chơ’i trẻ em, nữ trang, màu nước, hay các mẫu vàng thô,... là những chủ đề dẫn dắt bạn đến lĩnh vực sưu tập. Thật dễ dàng để hoàn tất một bộ sưu tập nếu như bạn biết thu thập các chủ đề chính yếu mà bạn có thể thu thập được trong giới hạn đề tài cũng như hạn định thời gian. Tuy nhiên, bạn không thể nào khẳng định trở thành nhà sưu tập đúng nghĩa nếu như bạn không hề phát triển sự say mê trong sưu tập. 9PN - Sống lâu: Khi nghĩ hưu thì số thời gian rất nhiều nhưng không có gì để suy nghĩ thì sẽ làm bộ não của bạn "xuống dốc" theo cấp 8. Có "Sưu Tầm" thì bộ não của bạn hoạt động (kích thích) liên tục để nghiên cứu cái hay, cái đẹp trong những album của mình. daitiengia - Cứu rỗi linh hồn : vì nếu đã nghiện sưu tập thì ngoài mặt tiêu cực, nó có tác dụng tích cực là giúp ta quên đi khi gặp những sự thất vọng trong cuộc sống , nó giúp ta phấn đấu sống tốt để hoàn thành bộ sưu tập.

Mội số biện pháp nâng cao năng suất trong sản xuất Gạch ốp lát

Lining city _Tỉnh Hồ Nam-Nơi sản xuất sứ cách điện lớn nhất Trung Quốc
Mô hình lò than hoá khí

.Máy In ROTOCOLOUR-Công nghệ in lưới hàng đầu trong sản xuất gạch Ceramic
1. Công tác sản xuất :
- Phát huy tối đa 100% năng lực thiết bị hiện có đồng thời phát huy hiệu quả của các dự án đã đầu tư trong thời gian vừa qua như: trạm khí hoá than, kết nối dây chuyền mài…
- Tập trung sản xuất các sản phẩm kích thước lớn (500, 600) có giá trị cao.
- Thực hiện tốt công tác chuẩn bị sản xuất: chuẩn bị phương án sản xuất, thiết bị, nguyên liệu sản xuất, phương án công nghệ rõ ràng, chuẩn hoá thông số công nghệ và vận hành cho từng loại sản phẩm.
- Nâng cao năng lực các thiết bị, đảm bảo thiết bị trên toàn dây chuyền ở trạng thái làm việc tốt nhất.
- Thuê chuyên gia thiết bị và đào tạo công nhân sửa chữa và vận hành máy ép, máy mài.
- Giảm hao hụt sản phẩm các công đoạn, tập trung đặc biệt tại công đoạn ép và mài.
2. Chất lượng sản phẩm:
- Liên tục cập nhật, đầu tư công nghệ kỹ thuật mới nhằm tạo ra những mẫu sản phẩm mới giá trị cao.
- Tăng cường các biện pháp kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào, chủ động giám sát từ mỏ của nhà cung cấp nhằm ổn định chất lượng của các lô nguyên liệu.
- Thực hiện đúng các thông số công nghệ, quy trình công nghệ, tăng cường các biện pháp kiểm soát thông số công nghệ tại các công đoạn, các vị trí trên dây chuyền sản xuất, lập báo cáo tình hình thực hiện quy trình công nghệ hàng tháng, nghiêm khắc xử lý vi phạm.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận KCS để kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất và kiểm tra sản phẩm cuối cùng.
- Áp dụng các biện pháp KAIZEN tại từng vị trí công nghệ nhằm nâng cao chất lượng, nhất là lỗi lệch kích thước, loang lệch màu, thấm nước, độ bóng.
.3. Hao hụt công đoạn :
- Thiết lập định mức hao hụt cho các công đoạn, từ đó giao khoán và điều hành kiên quyết việc thực hiện chỉ tiêu hao hụt tại từng công đoạn, đề ra qui chế thưởng phạt rõ ràng.
- Đánh giá đầy đủ các khuyết tật gây ra hao hụt trên các công đoạn này, từ đó có biện pháp khắc phục ngay trong từng ca sản xuất, thông qua hoạt động Kaizen.

.4. Chi phí sản xuất :
- Bám sát chỉ tiêu sản lượng sản xuất theo như kế hoạch đặt ra.
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và chi phí chi tiết từng cho tháng, qua đó nắm bắt được tình hình để có biện pháp điều chỉnh kịp thời, hàng tháng tiến hành họp phân tích đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã đặt ra, những vấn đề đạt được và chưa đạt được, chỉ ra cho các bộ phận các nguyên nhân và biện pháp tháo gỡ, đề ra cho tháng tới và các biện pháp thực hiện và triển khai thực hiện đồng bộ.
- Tăng năng suất lao động của người công nhân, rà soát bố trí sắp xếp lại lao động hợp lý trong từng công đoạn để giảm bớt các lao động dôi dư.
- Quản lý chặt chẽ việc nhập xuất và sử dụng vật tư, thực hiện việc lĩnh và sử dụng vật tư đủ dùng trong ngày, các bộ phận phải báo cáo giải trình các chi phí phát sinh chi tiết tại bộ phận của mình.
- Giảm hao hụt tại tất cả các công đoạn theo định mức kế hoạch.
- Hạn chế các thiết bị chạy không tải, nhất là các thiết bị có tiêu hao điện năng cao, giảm thời gian làm việc các thiết bị trong giờ cao điểm.
- Giảm thiểu thời gian trống lò, giảm hao hụt sau nung loại bỏ các sản phẩm lỗi trước khi đưa vào lò.
- Thực hiện các sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong quá trình sản xuất.
Ưu thế gạch ốp lát ceramic men mờ Những năm gần đây tại nhiều hội chợ các nước có ngành sản xuất ceramic phát triển đều nhận thấy rõ các sản phẩm gạch ốp lát sử dụng men mờ hoặc gạch Rustic ngày càng được nhiều nước sử dụng. Dòng sản phẩm này đang được sản xuất và xuất khẩu mạnh (Tây Ban Nha, Italia...) và chiếm tỷ lệ khá cao so với các loại gạch men khác. Gạch ốp lát ceramic men mờ đang dần chiếm lĩnh thị trường thế giới bởi có các ưu thế sau: Về mặt thẩm mỹ Tâm lý người tiêu thụ Âu - Mỹ là muốn gần gũi với thiên nhiên, ưa thích gạch ốp lát trang trí dạng vân đá bằng men mờ, nhất là gạch lát nền bao gồm cả gạch Rustic. Hiện ở I-ta-li-a, Mỹ, Ca-na-da người tiêu thụ đặc biệt ưa thích loại gạch này. Về tính chất cơ học Gạch gỗ lát trang trí men mờ có độ bền chịu mài mòn và chống xước cao hơn các loại men khác và có thời gian sử dụng dài hơn nhiều so với gạch dùng men bóng. Có nghĩa là sau thời gian sử dụng lâu dài diện mạo gạch không có sự thay đổi đáng kể. Đặc biệt gạch trang trí men bóng sau một thời gian sử dụng rất ngắn (có thể chỉ 1 năm được lát ở vị trí đi lại nhiều) thì lớp men đã mòn mờ đi và rất dễ bị xước. Nước ta hiện đa số người tiêu dùng vẫn ưa loại gạch men bóng không có lớp bảo vệ. Tuy nhiên gần đây đã có nhiều dấu hiệu là người tiêu dùng trong nước chủ yếu ở các thành phố, thị xã quan tâm tới loại gạch men mờ bởi thấy rõ ưu điểm của sản phẩm này. Về hiệu quả sản xuất Lượng frit cho dùng trong men mờ ít hơn các loại men khác. Tỉ lệ frit trong phối liệu men mờ chỉ từ 30-75%, còn ở men bóng thường từ 80-90%. Đặc biệt sản xuất bằng men mờ ít có sự cố hơn bởi sản phẩm thường không gây rỗ, rạn men và các khuyết tật phát sinh trên bề mặt so với men bóng. Những thay đổi nhỏ về lượng men khi trang trí hay nhiệt nung có dao động cũng không ảnh hưởng nhiều đến diện mạo gạch. Ngược lại, hai yếu tố đó ảnh hưởng rất nhiều đến độ bóng và mịn của các men đục và men bóng. Trên thế giới, người ta coi việc dùng ceramic men mờ hoặc gạch rustic giả cổ là sự lựa chọn thông minh. Bởi lẽ cuộc sống hiện đại với những áp lực trước công việc, sự bề bộn ồn ào của đô hội dễ khiến người ta cảm thấy mệt mỏi. Sự trở về với không gian gia đình ấm cúng là niềm mong mỏi của hàng tỷ con người trên thế giới. Trở về những miền dịu lắng, yên ấm của căn nhà hạnh phúc, ở đó không gian thiên nhiên thoáng đãng, có nụ cười con trẻ, có tình yêu dịu ngọt, có cỏ cây hoa lá và gạch ốp lát men mờ cũng đóng góp mang lại cho họ những phút giây thư giãn thoải mái. Việc dùng gạch men mờ ở nước ta còn đang ở giai đoạn giới thiệu, nhưng với những ưu thế nói trên cùng tâm lý tiêu dùng đang có xu hướng trở về nguồn, thì chắc chắn trong tương lai gần dòng gạch này sẽ được người tiêu dùng tiêu thụ tìm chọn ngày càng nhiều. Trước tiền đồ đầy hứa hẹn của dòng gạch này, công ty gạch ốp lát MIKADO đã chủ động nhập công nghệ và đang sản xuất nhiều chủng loại gạch men mờ, gạch rustic...

1.1. Giải pháp về nâng cao Sản lượng sản xuất

-Duy trì sự ổn định các máy ép Nasseti, củng cố bảo dưỡng các thiết bị khu vực khí than, nghiền xương, sấy phun.

- Duy trì chế độ chăm sóc hàng ngày, bảo dưỡng hàng tháng, giảm thiểu thời gian dừng máy bị động, đảm bảo thiết bị trên toàn dây chuyền ở trạng thái làm việc tốt nhất.

- Quy hoạch kho đất, lựa chon bài xương trắng, bài men tốt nhất cho nung 1 lần, 2 lần.

- Thực hiện tốt công tác chuẩn bị sản xuất: chuẩn bị phương án sản xuất, thiết bị, nguyên liệu sản xuất, phương án công nghệ rõ ràng, chuẩn hoá thông số công nghệ và vận hành cho từng loại sản phẩm.

- Sản xuất ổn định từng lô sản phẩm với số lượng lớn nhằm tránh thay đổi kế hoạch sản phẩm.

- Giảm hao hụt sản phẩm các công đoạn.

- Lên kế hoạch đào tạo lại chuyên môn cho công nhân cơ điện và công nhân công nghệ.

1.2. Giải pháp về nâng cao chất lượng sản phẩm

- Liên tục cập nhật, đầu tư công nghệ kỹ thuật mới nhằm tạo ra những mẫu sản phẩm mới giá trị cao.

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, lấy tiêu chuẩn sản phẩm xuất khẩu làm trọng điểm để đánh giá chất lượng sản phẩm toàn công ty.

- Tăng cường các biện pháp kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào, chủ động giám sát từ mỏ của nhà cung cấp nhằm ổn định chất lượng của các lô nguyên liệu.

- Thực hiện đúng các thông số công nghệ, quy trình công nghệ, tăng cường các biện pháp kiểm soát thông số công nghệ tại các công đoạn, các vị trí trên dây chuyền sản xuất, lập báo cáo tình hình thực hiện quy trình công nghệ hàng tháng, nghiêm khắc xử lý vi phạm.

1.3. Gải pháp về tăng tỷ lệ thu hồi:

- Thiết lập định mức hao hụt cho các công đoạn, từ đó giao khoán và điều hành kiên quyết việc thực hiện chỉ tiêu hao hụt tại từng công đoạn, đề ra qui chế thưởng phạt rõ ràng.

- Đánh giá đầy đủ, chi tiết các khuyết tật gây ra hao hụt trên các công đoạn này, từ đó có biện pháp khắc phục ngay trong từng ca sản xuất.

1.4. Giải pháp về giảm chi phí sản xuất.

- Bám sát chỉ tiêu sản lượng sản xuất theo như kế hoạch đặt ra nhằm giảm chi phí khấu hao.

- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và chi phí chi tiết cho từng tháng, qua đó nắm bắt được tình hình để có biện pháp điều chỉnh kịp thời, hàng tháng tiến hành họp phân tích đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã đặt ra, những vấn đề đạt được và chưa đạt được, chỉ ra cho các bộ phận các nguyên nhân và biện pháp tháo gỡ, đề ra cho tháng tới và các biện pháp thực hiện và triển khai thực hiện đồng bộ.

- Tăng năng suất lao động của người công nhân, rà soát bố trí sắp xếp lại lao động hợp lý trong từng công đoạn.

- Quản lý chặt chẽ việc nhập xuất và sử dụng vật tư, thực hiện việc lĩnh và sử dụng vật tư đủ dùng trong ngày, các bộ phận phải báo cáo giải trình các chi phí phát sinh chi tiết tại bộ phận của mình.

- Giảm hao hụt tại tất cả các công đoạn theo định mức kế hoạch.

- Hạn chế các thiết bị chạy không tải, nhất là các thiết bị có tiêu hao điện năng cao, giảm thời gian làm việc các thiết bị trong giờ cao điểm.

- Giảm thiểu thời gian trống lò, giảm hao hụt sau nung bằng cách loại bỏ các sản phẩm lỗi trước khi đưa vào lò.

- Thực hiện các sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong quá trình sản xuất.

2. Về tiêu thụ sản phẩm

2.1. Gải pháp tăng sản lượng bán:

* Về công tác kinh doanh trong nước:

- Trên cơ sở mục tiêu đề ra, phòng kinh doanh tiến hành xây dựng kế hoạch doanh thu và giao kế hoạch cho từng miền, từng vùng và chi tiết đến từng đại lý. Phân công cán bộ kiểm tra, theo dõi đôn đốc đồng thời đẩy mạnh các biện pháp hỗ trợ và thúc đẩy bán hàng, hình thành các chính sách khen thưởng động viên đại lý, các cán bộ kinh doanh hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.

- Xây dựng chính sách bán hàng ổn định, có sự phân cấp quan hệ đối xử rõ rệt giữa các nhóm đại lý nhằm tạo sự phân vùng một cách lành mạnh.

- Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm kích thước lớn, sản phẩm giá trị cao.

- Đẩy mạnh bán hàng công trình và tiến hành thu tiền ngay chuyến giao hàng tiếp theo cho công trình.

- Xây dựng và củng cố hệ thống các nhà phân phối theo khu vực, trong đó đặc biệt là việc bảo hộ thị trường cho các đại lý yên tâm bán hàng.

- Xây dựng lộ trình bán hàng tồn kho lâu ngày, sản phẩm thương hiệu, sản phẩm đuôi màu nhỏ lẻ, sản phẩm xuất khẩu còn sót lại để giảm hàng tồn kho, tăng dòng tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Tăng cường phát triển thương hiệu và hình ảnh của công ty qua các hình thức:

+ Tham gia các hội chợ chuyên ngành VLXD.

+ Duy trì Website quảng bá về hình ảnh mới của công ty.

+ Triển khai các hình thức quảng cáo

* Về công tác xuất khẩu: Đẩy mạnh công tác bán hàng xuất khẩu, đặc biệt là sản phẩm kích thước lớn giá trị cao cụ thể như :

- Duy trì mối quan hệ với các khách hàng truyền thống.

- Xây dựng chiến lược phát triển mẫu sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu của khách hàng từng vùng thị trường.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về xuất khẩu có tâm huyết với công việc, có trình độ nghiệp vụ ngoại thương, giỏi ngoại ngữ và kỹ năng đàm phán để tự tin trong các mối quan hệ đối ngoại.

- Duy trì website giới thiệu và quảng bá tiếp cận các thị truờng xuất khẩu.

- Tìm kiếm thêm khách hàng để tăng cường xuất khẩu.

2.2 Giải pháp về giá bán:

- Tăng giá bán 2% đến 4% đối với tất cả các dòng sản phẩm ở tất cả các vùng miền để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và bù đắp chi phí nguyên nhiên vật liệu đang có xu hướng ngày càng tăng cao. Các biện pháp tăng giá bán là:

+ Tăng trên các bảng giá 2% kết hợp điều chỉnh chính sách bán hàng 3%.

+ Tăng cơ cấu sản phẩm có giá trị cao, đặc biệt là các sản phẩm kích thước lớn như 250x 400 để sản lượng kích thước này đạt khoảng 50% tổng cơ cấu sản lượng tiêu thụ.Đưa nhanh kích thước 300x450 vào sản xuất và tiêu thụ trên thị trường.

- Xây dựng chính sách bán hàng xuyên suốt và giữ bình ổn giá. Tiếp tục ổn định hệ thống giá bán và căn cứ vào diễn biến thực tế thị trường bằng các chính sách khác nhau đối với từng nhóm đại lý.

- Lập chính sách bán hàng riêng cho Bộ phận công trình để tạo tính chủ động trong công tác bán hàng của công trình.

2.3 Giải pháp về hàng tồn kho

Mục tiêu giảm hàng tồn kho đến 31/12/2008 là 404.450 m2 trong đó cần phải tiêu thụ hết các sản phẩm kích thước nhỏ, các sản phẩm tồn kho chậm luân chuyển như sản phẩm các thương hiệu, sản phẩm đuôi nhỏ lẻ, sản phẩm dư lại của xuất khẩu. Tồn kho 31/12/2008 chỉ còn sản phẩm kích thước lớn. Để thực hiện mục tiêu này Công ty thực hiện một số biện pháp như sau:

- Tập trung tiêu thụ các sản phẩm thông thường, trong đó có các mẫu truyền thống đã được thị trường ưa thích trong những năm qua.

- Cân đối theo từng tháng tiêu thụ các sản phẩm tồn kho chậm luân chuyển như sản phẩm đuôi nhỏ lẻ, sản phẩm dư lại của xuất khẩu, bằng cách : Tiến hành tiếp thị và bán vào các công trình ; bán cho các nhà phân phối ở những vùng thị trường nhất định mà không làm ảnh hưởng tới các thị trường mục tiêu đang tiêu thụ tốt các sản phẩm truyền thống.

- Hạn chế sản xuất các sản phẩm A2, giảm đuôi màu sản phẩm.

- Bán hết dòng sản phẩm sản xuất trong kỳ.